17 thg 1, 2008

Cần chấm dứt GIẢ DANH Phật giáo để khiêu khích Công giáo nhằm gây chia rẽ!

DSC00871
cái gọi là

Tôi phải tô đậm ba chữ "cái gọi là" vì tôi nhận ra ngay nó rất quen thuộc trong các bài viết nhằm bôi nhọ các cá nhân hay tổ chức ngoài quốc doanh thường bắt đầu bằng "cái gọi là" .Ngày 16/01/2008 trang báo điện tử Phật tử Việt nam có đăng bài :

Tiếng nói của Phật tử trước cái gọi là "cầu nguyện" đòi lại Tòa khâm sứ - ý kiến độc giả
Nhận thấy đây là một bài viết có tính chất nội dung chia rẽ tôn giáo,công kích Công giáo nguy hiểm,đặc biệt phần ý kiến phản hồi rất cực đoan. Dân tộc Việt nam có hai tôn giáo lớn là Phật giáo và Công giáo.Chia rẽ công kích hai tôn giáo này là chia rẽ dân tộc.Dù theo Phật giáo hay Công giáo chúng ta đều là con dân đất Việt . Gỉa danh Phật giáo để khiêu khích Công giáo nhằm gây chia rẽ dân tộc là cực kỳ thâm độc!Chúng ta cần vạch trần âm mưu này trước công luận.
Người viết bài này có phải là một phật tử không?Mời bạn đọc đóng góp ý kiến.
**********
Xem hình

Đất bị thực dân Pháp và tay sai

Ki-tô giáo cưỡng đoạt xây nhà thờ lớn

Cập nhật 17h19 16/01/2008. Xét một cách chính danh nhất thì Phật giáo mới đủ tư cách để đòi lại đất bị nhà thờ và thế lực tay sai xâm chiếm. Và cứ nếu xét theo sự thật lịch sử thì không chỉ có nhà thờ Lớn tại Hà Hội mà nhà thờ Lớn tại TP. HCM cho đến cái gọi là thánh địa La Vang cũng phải trả về cho Phật giáo.



Trong khi gần đây cả nước đang đặc biệt quan tâm tới vụ Trung Quốc “đòi” quản lý Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thì ngay tại thủ đô Hà Nội, Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt đã cố tình “cùng với” giáo dân (cũng bắt chước) “đòi” lại Tòa Khâm sứ.

Dù được khích động dưới hình thức cầu nguyện và ký tên chung quanh khu vực nhà thờ Chính Tòa và khu vực Tòa Giám Mục thì hành động của những người giáo dân trong vụ việc trên trong những ngày vừa qua tại Hà Nội chẳng khác nào thái độ “biểu tình”, “yêu sách”, “đòi” một cách dại dột, thiếu nhận thức lịch sử, quay lưng lại với lợi ích dân tộc…

Khi nhắc đến từ “đòi”, chúng ta buộc phải nhắc đến “quyền sở hữu” mà ở đây là là quyền sở hữu đất đai: thuộc về ai?

Để tôn trọng lịch sử và sự thật, chúng ta nên nhắc lại chiếu dời đô của vua Lý Công Uẩn năm 1010 và việc mở mang, xây dựng kinh đô Thăng Long (bây giờ là thủ đô Hà Nội). Sau bao nhiêu năm gian khổ đối kháng với sự xâm lăng của giặc phương Bắc, chúng ta đã có một nhà nước độc lập tự chủ với một không gian rộng lớn đủ để tổ tiên ta “xưng đế một phương” đem lại niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước sâu xa.

Khi danh xưng “hoàng đế” được xác lập cũng là lúc cương thổ được xác lập, quyền vương hữu được xác lập. Quyền vương hữu được xác lập từ cọng cỏ lá rau đến đất đai, sông núi, mây trời. Từ quyền hành ấy nhà vua mới phân phong cho các giai tầng trong xã hội quản lý và thu về bất cứ khi nào cần đến trong nguyên tắc vì lợi ích của vương triều và đời sống của nhân dân.

Chúng ta không thể quên câu nói: “Sông núi nước Nam vua Nam ở” (tất cả mọi sự xâm lăng của ngoại bang, đế quốc đều vĩnh viễn không thể nằm trong quyền sở hữu này cho dù lúc này lúc khác chúng có thể giày xéo, đô hộ dân tộc ta). Thời thế dù thịnh suy đắp đổi thì những triều đại sau đó cũng áp dụng nguyên tắc độc lập, tự chủ ấy.

Cũng từ nhận thức về sự thật lịch sử ấy, chúng ta thấy trước năm 1883, khu vực Nhà thờ Lớn và Tòa Khâm sứ là đất của chùa Báo Thiên được vua Lý cho xây dựng lần đầu tiên vào năm 1057 (Tháp Báo Thiên là một trong An Nam Tứ Khí nổi tiếng của đất nước ta).

Năm 1883 chính quyền thực dân đã âm mưu, cấu kết với Giám mục Puginier chiếm chùa Báo Thiên để xây nhà thờ Lớn. Tòa Khâm là trụ sở của Khâm mạng John Dooley (đại sứ của Vatican) vốn là một tên tay sai khét tiếng chống Cộng, đàn áp khởi nghĩa. John Dooley người Ireland được Giáo hoàng Pio XII – mệnh danh là “giáo hoàng bạn của nazis” bổ nhiệm năm 1950.

Như vậy, xét một cách chính danh nhất thì Phật giáo mới đủ tư cách để đòi lại đất bị nhà thờ và thế lực tay sai xâm chiếm. Và cứ nếu xét theo sự thật lịch sử thì không chỉ có nhà thờ Lớn tại Hà Hội mà nhà thờ Lớn tại TP. HCM cho đến cái gọi là thánh địa La Vang cũng phải trả về cho Phật giáo.

Nhưng bằng tinh thần khoan dung và vì lợi ích đoàn kết dân tộc, người Phật tử Việt Nam đã gác lại lịch sử đau thương để hướng về tương lai tốt đẹp. Trái với tinh thần đó, vụ việc trên của những người Công giáo bị khích động đã một lần nữa cắt vào nỗi đau chung của dân tộc và Phật giáo.

Người dân cày ruộng hàng năm thu hoạch mùa màng còn biết dâng cúng vật phẩm để nhớ ơn tiền hiền khai hoang, hậu hiền khai khẩn. Thế mà vẫn có nhiều kẻ coi mảnh đất mà tiền nhân đã đổ mồ hôi, nước mắt, xương máu gây dựng là nơi để xà xẻo, tranh đoạt, thật đáng buồn lòng.

Khi người Công giáo viện cớ “Tòa Khâm” là sỡ hữu của Giáo hội “hơn một trăm năm”, họ có nghĩ tới chủ sở hữu của khu vực này từ “gần một nghìn năm” không?

Nhẽ ra, bằng đạo đức phổ thông, từ lâu, người Công giáo nên học theo Giáo hoàng Joan Phao-lô II, nhìn nhận vào những nhận thức và hành động sai lầm của mình trong quá khứ để có một lời xin lỗi chân thành đối với dân tộc và Phật giáo và biết xấu hổ không lặp lại hành động tượng tự mà “cha”, “ông” họ đã làm khi cấu kết với tay sai nô dịch văn hóa, tàn phá quê hương, giết hại đồng bào. Bởi dưới thời thực dân, Giáo hội là “địa chủ” lớn nhất tại Việt Nam, có biết bao nhiêu người vì mảnh đất sinh nhai mà buộc phải cải đạo để đổi lấy một sự sinh tồn.

Nếu cứ luận suy tùy tiện mà “đòi” như vậy thì nông dân Việt Nam sẽ còn bao nhiêu đất để cấy cày khi trước đó phần lớn đất đai là của địa chủ thực dân, phong kiến bị tịch thu đưa vào đất công.

Người Công giáo sẽ nghĩ gì, nếu những người Phật tử cũng thắp hương cầu nguyện, ký tên đứng bao quanh nhà thờ Lớn Hà Nội và những nơi người Công giáo đã chiếm đoạt để đòi lại những danh thắng nổi tiếng của dân tộc và Phật giáo đã bị chính nhà thờ và tay sai tàn phá? Nhưng người Phật tử sẽ không bao giờ làm thế nếu người Công giáo không tiếp tục có những hành động quá đáng như vậy.

Sau vụ việc “đòi” Tòa Khâm, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đến thăm tòa Tổng Giám mục. Mọi người đang đồn nhau về sự “thỏa hiệp” giữa Chính quyền và Giáo hội. Nếu có sự “thỏa hiệp” thì chính phủ nên “ban” cho họ một phần đất ở một nơi nào đó để sinh hoạt, bởi không có lý do chính đáng nào để gọi là “trả lại” Tòa Khâm.

Nếu hành động “trả lại” Tòa Khâm xảy ra, tin chắc sẽ gặp phải những phản ứng quyết liệt của người Phật tử trong nước và nước ngoài. Và nếu điều đó xảy ra sẽ là tiền lệ nguy hiểm cho những hành vi học “đòi” một cách lố bịch như Trung Quốc và là một cách hành xử không công bằng đối với Phật giáo.

Nguồn : Phật tử Việt nam

Thể theo lời yêu cầu của một bạn đọc tôi tạm gỡ thông tin về BBT của trang Phật tử Việt nam xuống.Nhưng họ phải có lời giải thích về việc vì sao đăng bài báo trên với những người phật tử chân chính.

Như tiêu đề và trong phần giới thiệu tôi đã nói về sự giả danh Phật giáo,giả danh Phật tử để công kích Người công giáo gây chia rẽ tôn giáo,đòan kết dân tộc.Các bạn nên thể hiện tinh thần đòan kết tôn trọng các tôn giáo khác và vạch rõ âm mưu kích động của bài viết .Tôn trọng những người Phật tử chân chính.

Trong buổi cầu nguyện hiệp thông với giáo dân Sài gòn. LM. Vũ Khởi Phụng nêu bật ý chính: "Vấn đề không phải ở hai hay năm bảy mảnh đất mà vấn đề quan trọng chính là Công lý phải được sáng tỏ". Cũng vậy, LM Phụng kêu gọi mọi người "cầu nguyện cho nhà cầm quyền biết sáng suốt, biết khôn ngoan hơn để hành động thế nào cho ích nước, lợi dân..."

15 thg 1, 2008

Hình ảnh thác Bản Giôc ở biên giới Việt nam - Trung quốc 03-2007

caobangbangioc (408)
Thác Bản Giôc
caobangbangioc (409)
Vài chiếc bè tre làm dịch vụ đưa khách tới gần thác.
caobangbangioc (412)
Phần thác chính
caobangbangioc (420)
Dãy núi đá cao bên phải của Tàu
caobangbangioc (421)
Một chiếc bè tre của Tàu đưa khách du lịch thăm thác
caobangbangioc (422)
Triền núi có con đường chạy dọc sông Quây Sơn,dưới sông là dãy bè tre của Tàu
caobangbangioc (430)
Phần thác thuộc Việt nam
caobangbangioc (431)
Chụp ảnh dưới thác [cao]
caobangbangioc (433)
Thác [cao]
caobangbangioc (438)
Thac cao
caobangbangioc (439)
Đi qua cây cầu này phải đóng 2k
Ban (4)
Ban (8)
Ban (19)
Du khách Việt nam
Ban (20)
Du khách Việt nam
Ban (22)
Cánh đồng trong thung lũng thác Bản Giôc.
Ban (23)
thung lũng thác Bản Giôc
Ban (24)
Đồn biên phòng Việt nam
Ban (26)
Bên kia sông Quây Sơn,trên đồi là những khách sạn của Tàu
Ban (26)
Chụp gần hơn
Ban (27)
Tòan cảnh thung lũng
Ban (29)
Phía dãy núi đá cao bên phải là Tàu
Ban (30)
Thung lũng
Ban (31)
Toàn cảnh
Ban (32)
Khách sạn của Tàu trên triền núi.

Ban (68)

ảnh : Điếu cày[03-2007]

Các bạn có thể xem nhiều hình tại đây

Vài ý-kiến về biên-giới Việt-Trung

8ba5
Thác Bản Giôc[ảnh:Điếu cày]
Góp ý với ông Vũ Dũng về vấn đề biên-giới

Vài ý-kiến về

biên-giới Việt-Trung

Trương Nhân Tuấn

Nhân đọc bài phỏng-vấn Thứ-Trưởng bộ Ngoại-Giao Vũ Dũng trên báo Nhân-Dân

Báo Nhân-Dân hôm 2 tháng 1 năm 2008 có đăng bài phỏng-vấn ông Vũ Dũng, Thứ-Trưởng bộ Ngoại-Giao kiêm Chủ-Nhiệm Ủy-Ban Biên-Giới Quốc-Gia nhân-dịp tỉnh Lào-Cai hoàn-thành công-tác phân-giới cắm-mốc trên thực-địa với tỉnh Vân-Nam, Trung Quốc. Toàn-bộ bài phỏng-vấn đăng ở http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=37&sub=50&article=112915 Tác-giả bài viết này có một số nhận-xét về bài phỏng vấn, phần liên-quan đến đường biên-giới, lần-lượt ghi lại theo thứ-tự các câu hỏi của phóng-viên báo Nhân-Dân như sau :

1/ Hỏi: Xin ông cho biết ý nghĩa của việc hoàn thành phân giới cắm mốc (PGCM) biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc tại địa bàn tỉnh Lào Cai?

Trả lời: Với việc cắm cột mốc số 144 tuần qua, công tác PGCM trên tuyến biên giới của tỉnh Lào Cai của Việt Nam với tỉnh Vân Nam của Trung Quốc đã kết thúc thắng lợi…

Trương Nhân Tuấn

Người ta không thể nói việc cắm mốc khu-vực biên-giới này là thắng-lợi nếu người ta nắm rõ tình-hình biên-giới Việt-Trung. Việc cắm mốc được bắt đầu từ cuối năm 2001, tức đã 6 năm qua và đoạn biên-giới Lào-Cai là đoạn ngắn nhất, dễ cắm mốc nhất so với các tỉnh khác như Cao-Bằng, Lạng-Sơn.

Biên-giới trên bộ giữa Việt-Nam và Trung-Quốc dài khoảng 1.400Km, đi qua các tỉnh thuộc Việt-Nam từ Đông sang Tây là Quảng-Ninh, Lạng-Sơn, Cao-Bằng, Hà-Giang, Lào-Cai và Lai-Châu. Hai tỉnh Lào-Cai và Quảng-Ninh có đường biên-giới ngắn hơn nhiều so với các tỉnh còn lại. Đặc-biệt đường biên-giới Lào-Cai với Vân-Nam hầu hết là biên-giới thiên-nhiên do sông, suối cấu thành. Vùng biên-giới Lào-Cai chỉ được xác-định vỏn-vẹn bằng 4 giới-điểm chiếu theo Hiệp-Ước Biên-Giới 20-12-1999 (HUBG), là các giới-điểm 6,7,8 và 9 (tức chỉ có 3 đoạn biên-giới trên tổng số 60 đoạn). Theo HUBG, nếu biên-giới theo sông hay suối thì không cắm mốc mà chỉ xác-định đường biên-giới qua đường trung-tuyến dòng chảy hay trung-tuyến luồng tàu bè qua lại và chủ-quyền các cồn, bãi nếu có trên sông hay suối. Như thế biên-giới Lao-Cai với Vân-Nam chỉ phải cắm mốc trên chiều dài vài ba chục ki-lô-mét. Điều đáng chú ý khác đoạn biên-giới Lào-Cai – Vân-Nam không có những tranh-chấp lãnh-thổ làm thay đổi đường biên-giới lịch-sử (tức đường biên-giới theo các công-ước Pháp-Thanh 1887 và 1895). Các đoạn biên-giới có tranh-chấp được thể-hiện qua HUBG ở các điểm « đường biên-giới theo đường đỏ », tức hai bên không đồng-ý bản-đồ của Nha Địa-Dư Pháp vẽ theo các công-ước 1887 và 1895 mà phải thuơng-lượng lại.

Phải 6 năm mới hoàn-tất được vài mươi cây-số khu-vực Lào-Cai cho thấy đây không phải là một « thắng-lợi lớn » như ông Vũ Dũng nói.

Nguyên-văn phần mô-tả đường biên-giới Lào-Cai theo HUBG sau đây (1), các chữ viết màu xanh là đoạn biên-giới phải cắm mốc.

2/ Hỏi: Xin ông cho biết thực trạng tình hình PGCM (tức phân giới, cắm mốc, chú thích của tác-giả) trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc và khả năng hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ này trước tháng 6-2008?

Trả lời: Biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc dài khoảng 1.400 km. Hai bên thống nhất cắm khoảng 1.800 cột mốc, trong đó có 1.533 mốc chính và gần 300 mốc phụ.

Kể từ khi cắm mốc giới đầu tiên đến nay các lực lượng PGCM của hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã hoàn thành hơn 85% khối lượng công việc PGCM trên thực địa… Ngoài Lào Cai, các tỉnh Lai Châu, Quảng Ninh cũng đã hoàn thành hơn 95% công việc, Nhóm PGCM số sáu thuộc tỉnh Hà Giang cũng vừa hoàn thành toàn bộ công việc trên thực địa… chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng công tác PGCM trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc sẽ hoàn thành thắng lợi trong sáu tháng đầu năm 2008 như thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước

Trương Nhân Tuấn

Đường biên-giới tỉnh Quảng-Ninh, tương-tự như tỉnh Lào-Cai, là đường biên-giới ngắn so với các tỉnh khác và một phần là biên-giới thiên-nhiên do sông, suối cấu-tạo thành. Đường biên-giới này tương-ứng khoảng từ mốc-giới 56 đến mốc giới 61 của HUBG, tức chỉ có 5 đoạn biên-giới trên tổng-số 60 đoạn. Trong đó có một vùng tranh-chấp lãnh-thổ, ghi lại qua HUBG bằng câu « đường biên-giới theo đường đỏ », được viết bằng màu đỏ (2).

Đoạn màu đỏ tương-ứng trên thực-địa là vùng Trình-Tường. Tài-liệu của nhà-nước CSVN do Nhà Xuất-Bản Sự-Thật phát hành năm 1979 mang tựa đề « Vấn Đề Biên-Giới giữa Việt-Nam và Trung-Quốc » mô-tả lại nguyên-nhân và hậu-quả của tranh-chấp vùng Trình-Tường như sau :

« Lợi-dụng đặc-điểm là núi-sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân-dân hai bên biên-giới vốn có quan-hệ họ-hàng, dân-tộc, phía Trung-Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh-thổ Việt-Nam để làm ruộng, làm nương, rồi định-cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng, nương, cuối cùng nhà cầm-quyền Trung-Quốc ngang-ngược coi những khu-vực đó là lãnh-thổ Trung-Quốc.

Khu-vực Trình-Tường thuộc tỉnh Quảng-Ninh là một thí-dụ điển-hình cho kiểu lấn-chiếm đó. Khu-vực này được các văn-bản và các bản-đồ hoạch-định và cắm mốc xác-định rõ-ràng là thuộc lãnh-thổ Việt-Nam: đường biên-giới lịch-sử tại đây đi qua một dải núi cao, chỉ rõ làng Trình-Tường và vùng chung-quanh là lãnh-thổ Việt-Nam. Trên thực-tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Trình-Tường, những người dân Trung-Quốc sang quá-canh ở Trình-Tường đều đóng thuế cho nhà đương-cục Việt-Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trung-Quốc tìm cách nắm số dân sang làm ăn ở Trình-Tường bằng cách cung-cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải, và nhiều hàng khác, đưa họ vào công-xã Ðồng-Tâm thuộc huyện Ðông-Hưng, khu tự-trị Choang - Quảng-Tây. Nhà đương-cục Trung-Quốc nghiễm-nhiên biến một vùng lãnh-thổ Việt-Nam, dài 6 km, sâu hơn 1.300 m thành sở-hữu tập-thể của một công-xã Trung-Quốc. Từ đó, họ đuổi những người Việt-Nam đã nhiều đời nay làm ăn sinh-sống ở Trình-Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện-thoại, tự cho phép đi tuần-tra khu-vực này, đơn-phương sửa lại đường biên-gới sang đồi Khâu-Thúc của Việt-Nam. Tiếp đó họ đã gây ra rất nhiều vụ hành-hung, bắt cóc công-an vũ-trang Việt-Nam đi tuần-tra theo đường biên-giới lịch-sử và họ phá-hoại hoa-mầu của nhân-dân địa-phương ».

Theo biên-bản phân-giới cắm mốc ngày 21 tháng 12 năm 1893 của công-ước Pháp-Thanh 1887, biên-giới vùng Trình-Tường tương-ứng các cột mốc 30, 31, 32, được xác-định nguyên-văn như sau:

«La frontière suivra ensuite le cours de ce même affluent jusqu’à son intersection avec le ruisseau qui prend sa source à 500 mètres de 呈祥 (en annamite Trinh Tuong, en chinois Tcheng Siang) ; elle suivra ce ruisseau depuis cette intersection jusqu’à sa source ; de là, elle se dirigera par des lignes droites jusqu’à 北崗 (en annamite Bac Cuong Aï, en chinois Pé Kang Aï), passant par les sommets 675, 812 et 746 qui se trouvent au N.O. de Trinh Tuong.

Le village de Trinh Tuong appartient à l’Annam ; ceux de 衞慙 (en annamite Vệ Tàm, en chinois Shu Tsan) et de 矯曹(en annamite Kiểu-Tào, en chinois Kiao Tsao) à la Chine. »

Tạm dịch : « Ðường biên-giới sau đó theo dòng chảy của phụ-lưu nói trên cho tới giao điểm của phụ-lưu này với con suối mà nguồn của nó cách Trình-Tường 呈祥 (Tcheng-Siang) 500 m ; đường biên-giới theo dòng suối từ giao-điểm này cho tới nguồn của nó. Từ đây đường biên-giới là những đường thẳng nối cho tới Bắc-Cương Ải 北崗, đi ngang qua các đỉnh 675, 812 và 746 ở phía Tây-Bắc Trình-Tường.

Làng Trình-Tường thuộc về Việt-Nam ; các làng Vệ-Tàm 衞慙 ( Shu-Tan) và Kiểu-Tào 矯曹(Kiao Tsao) thì thuộc về Trung-Hoa. »

Nguyên-văn biên-bản cắm mốc các cột mốc chung-quanh vùng Trình-Tường như sau :

BORNE n° 30

à 60 mètres au S.E. du village de 那沙 (en annamite Na Sa, en chinois Na Cha).

Repérage (azimuths magnétiques)

Cote 327 65°

Poste de Hoan Mô (côté Ouest) 343°

BORNE COMMUNE n° 31

à 600 mètres à l’Est de 呈祥 (en annamite Trinh Tuong, en chinois Tcheng Siang).

Repérage (azimuths magnétiques)

Poste de Hoan Mô 347°

Sommet du 東另嶺 (en annamite Đông Lánh Lãnh, en chinois Toung Linh Ling)

cote 763 210°

BORNE COMMUNE n° 32

à 1160 mètres au N.N.O. du village de Trinh Tuong.

Repérage (azimuths magnétiques)

Sommet du Ðông-Lánh-Lãnh 176°

Sommet du (en annamite Pha Lai Lanh, en chinois Pa Lai Ling)

cote 895 73°

BORNE COMMUNE n° 33

au col situé entre les côtes 746 et 750 ; à 340 métres au S ; de la vallée de Bac Cuong Aï.

Biên-bản của công-ước Pháp-Thanh xác-định rõ rệt làng Trình-Tường thuộc về Việt-Nam cũng như các cột mốc xác-định vị-trí đường biên-giới. Nếu văn-bản này được đưa ra thì phía Trung-Quốc không có lý-do gì dành đất của Việt-Nam (nếu họ tôn-trọng công-ước 1887).

Đến nay tỉnh Quảng-Ninh đạt được 95% công việc. Chắc-chắn 5% còn lại là khúc xương khó nuốt tên Trình-Tường. Biên-giới vùng Trình-Tường đã được Ủy-Ban Phân-Giới do ông Galliéni vẽ bản-đồ (năm 1893) rất chính-xác. Bộ bản-đồ 1/50.000 của Sở Địa-Dư Đông-Dương cũng vẽ rất rõ-rệt vùng này. Việc khó-khăn chắc-chắn là do phía Trung-Quốc đã chiếm và cho dân đến sinh-sống từ nhiều thập niên (từ năm 1956). Biện-pháp nào giải quyết cho những người dân Hoa trên đất Việt này ? Phía Trung –Quốc thì luôn có luận-cứ : Nếu là đất Việt thì làm sao có dân Hoa được ? Và như vậy trên đường biên-giới có vài mươi trường-hợp tương-tự như vùng Trình-Tường.

Ông Vũ Dũng tin-tưởng các đội phân-giới – cắm mốc sẽ hoàn-tất vào tháng 6 năm này nhưng có lẽ đây là lời tiên-đoán lạc-quan, không thuyết-phục.

9e8f
Thác Bản Giôc [ảnh:Điếu cày]

3/ Hỏi: Một số mạng nước ngoài đưa tin thất thiệt rằng, Việt Nam bị mất đất. Ông có bình luận gì về ý kiến này?

Trả lời: Chủ quyền lãnh thổ là vấn đề hết sức thiêng liêng đối với bất kỳ quốc gia, dân tộc nào. Ðối với dân tộc Việt Nam thì chủ quyền lãnh thổ lại càng thiêng liêng cao cả. Dân tộc ta từ nghìn xưa đã chiến đấu, hy sinh để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Gần tám thập kỷ qua, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Bác Hồ kính yêu, đã đi qua những cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ, chịu đựng những hy sinh, mất mát to lớn để giữ vững chủ quyền lãnh thổ của mảnh đất thân yêu này…

Chỉ có thể giải thích rằng những mạng này hoặc do thiếu thông tin hoặc cố tình làm sai lệch thông tin vì những ý đồ khác nhau.

90a7

Tòan cảnh thác Bản Giôc [ảnh:Điếu cày]

Trương Nhân Tuấn

Trước tiên là nhận-xét về cách đặt câu hỏi của phóng-viên báo Nhân-Dân. Chúng tôi cho rằng cách đặt câu hỏi như thế thật không đúng điệu, nếu không nói là vừa thiếu lương-tâm vừa vô trách nhiệm. Người cầm bút lương-thiện không ai đặt như thế. Ký-giả cho rằng « Một số mạng nước ngoài đưa tin thất thiệt rằng, Việt Nam bị mất đất ». Căn-cứ vào đâu ký-giả cho rằng người ta loan tin thất-thiệt ?

Vấn-đề mất đất đã quá rõ-ràng ở một số địa-điểm mà các bằng-chứng đến từ các cơ-quan như bộ Ngoại-Giao, các viên-chức thẩm-quyền của nhà nước CSVN hay từ các tài-liệu phân-giới Pháp-Thanh 1885-1897, hiện đang tồn-trữ ở Văn-Khố Hải-Ngoại Pháp-Quốc (Centre des Archives d’Outre-Mer - CAOM) tại Aix-En-Provence. Nó đã là những sự thật hiển-nhiên, người viết sẽ trở lại ở dưới. Về biển cũng thế, trong Vịnh Bắc-Việt nhà-nước CSVN đã làm mất 11.000km² lãnh-hải Việt-Nam cho Trung-Quốc do hậu-quả hiệp-ước tháng 12 năm 2000. Số-phận quần-đảo Hoàng-Sa có thể sẽ vĩnh-viễn thuộc về Trung-Quốc nếu công-hàm 1958 của chủ-tịch Hồ Chí Minh (do thủ-tướng Phạm Văn Đồng ký) được một tòa-án quốc-tế công-nhận hiệu-quả của nó.

Ông Vũ Dũng cho rằng : « Chỉ có thể giải thích rằng những mạng này hoặc do thiếu thông tin hoặc cố tình làm sai lệch thông tin vì những ý đồ khác nhau ».

Đất đai, đường biên-giới lịch-sử (1887), đường biên-giới hiện nay (1999) vẫn còn nguyên-vẹn, một mặt trên giấy-tờ lịch-sử và pháp-lý, một mặt trên thực-địa. Nếu ông Vũ Dũng cho rằng những « mạng này » thiếu thông-tin thì phải cung-cấp thông-tin cho người ta. Không thể một mặt dấu thông-tin mặt khác cho rằng nguời ta thiếu thông-tin được. Làm thế là thiếu trách-nhiệm. Và cũng cần khẳng-định là không ai có « ý-đồ » nào trong vấn-đề lãnh-thổ, lãnh-hải quốc-gia ngoài « ý-đồ » yêu nước, muốn bảo-vệ lãnh-thổ. Ông Vũ Dũng sẽ gặp nhiều khó-khăn để bênh-vực hành-vi mà một bộ-phận lớn nhân-dân Việt-Nam cho là « bán nước nhượng biển » của chế-độ hiện-tại.

Riêng về ký-giả phỏng-vấn, thiển-nghĩ, xưa nay đã đi « dưới tấm chỉ đường của trí-tuệ », đã quen thói đi một bên lề đường, cây viết của họ là « cần câu cơm ». Vì thế cũng thông-cảm cho việc sai sót. Tuy nhiên, chuyện của đất nước là chuyện trọng-đại, khi khác nếu có viết thì nên cân-nhắc.

4/ Hỏi: Gần đây có nhiều dư luận khác nhau về việc phân định khu vực thác Bản Giốc và khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, xin Thứ trưởng cho biết ý kiến về vấn đề này?

af69

Trên đồi phía bên kia sông Quây Sơn là các khách sạn của Tàu [ảnh:Điếu cày]

Trả lời: Như trên tôi đã nói, căn cứ quan trọng nhất để xây dựng Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc là các Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895. Do hạn chế của điều kiện lịch sử, các văn bản pháp lý về hoạch định và PGCM giữa Pháp và Nhà Thanh có những điểm quy định không rõ ràng. đường biên giới được vẽ trên bản đồ tỷ lệ lớn từ 1/20.000 đến 1/500.000, có nghĩa một mi-li-mét trên bản đồ tương đương với từ 20 m đến 500 m trên thực địa. Hơn nữa, địa hình trên bản đồ không hoàn toàn phù hợp với địa hình trên thực địa, nên rất khó xác định hướng đi của đường biên giới tại các khu vực này. Chính vì vậy tại các khu vực này đã xảy ra tranh chấp rất phức tạp và kéo dài.

Tại khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, theo các văn bản pháp lý lịch sử, đường biên giới luôn nằm phía nam Ải Nam Quan. Trấn Nam Quan do Trung Quốc xây dựng vẫn thuộc Trung Quốc, chứ không phải đường biên giới đi qua Ải Nam Quan như một số người vẫn hiểu.

Thác Bản Giốc gồm hai phần: phần thác cao hoàn toàn thuộc Việt Nam, không có tranh chấp; phần thác thấp gắn liền với sông Quây Sơn. Theo Công ước Pháp - Thanh, đường biên giới đi giữa sông Quây Sơn đến thác và mốc 53 nằm phía trên thác đánh dấu sự chuyển hướng đường biên giới từ sông lên bờ. Hiện nay ta và Trung Quốc chưa PGCM đoạn biên giới khu vực này nhưng có thể khẳng định phần thác cao hoàn toàn thuộc Việt Nam, phần thác thấp sẽ được phân giới theo luật pháp và tập quán quốc tế về trung tuyến dòng chảy hoặc trung tuyến tàu thuyền đi lại được, hoàn toàn không có chuyện Việt Nam mất thác Bản Giốc như một số người nói. Hàng triệu lượt khách du lịch đến thác Bản Giốc đều biết rất rõ điều này.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, về tổng thể, các giải pháp đạt được trong việc giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền nói chung và đối với hai khu vực cụ thể nói trên là thỏa đáng, đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng của cả hai bên.

Trương Nhân Tuấn

a/ Khu-vực Nam-Quan :

Ở trên ông Vũ Dũng đã cho rằng « các mạng » loan tin sai hoặc vì do thiếu thông-tin, hoặc vì do có « ý-đồ ». Nhưng đọc phần trả lời của ông Vũ Dũng về khu-vực Nam-Quan người ta không khỏi nghi-ngờ các « thông-tin » của ông. Ông Dũng thiếu thông-tin hay ông có « ý-đồ » ?

Với tư-cách Thứ-Trưởng bộ Ngoại-Giao kiêm Chủ-Nhiệm Ủy-Ban Biên-Giới Quốc-Gia, ông Dũng đương-nhiên thông-hiểu các vấn-đề liên-quan đến biên-giới hơn ai hết. Ông nói « Tại khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, theo các văn bản pháp lý lịch sử, đường biên giới luôn nằm phía nam Ải Nam Quan ». Điều này không sai nhưng không ai nói như thế vì nó không có ý nghĩa gì hết. Đường biên-giới ở phía Nam của Nam-Quan, ta thấy Hà-Nội hay Sài-Gòn đều ở phía Nam của Nam-Quan, phải chăng đưòng biên-giới qua các nơi này ?

Thực sự đường biên-giới tại cổng Nam-Quan được xác-định ra sao theo các công-ước Pháp-Thanh ?

Biên-bản phân-định ký ngày 7 tháng 4 năm 1886 của hai phái-đoàn Pháp và nhà Thanh tại Đồng-Đăng như sau :

La Commission de Délimitation Franco-Chinoise a reconnu, le sept avril mil huit cent quatre-vingt-six, qu’à partir du point situé à cent mètres en avant de la Porte de Nam-Quan, sur la route de Nam-Quan à Ðồng-Ðăng, la frontière remonte à l’Ouest jusqu’au sommet de la montagne rocheuse sur lequel est situé le fort marqué A sur le croquis ci-joint, suit à partir de ce fort le haut de la muraille rocheuse qui domine la route de Ðồng-Ðăng jusqu’au point marqué B sur le croquis. Ce point B se trouve à l’endroit où le sentier qui, se détachant de la route de Ðồng-Ðăng à Nam-Quan, conduit au village de Lung-Ngieu, coupe la muraille rocheuse. Elle suit ensuite ce même chemin jusqu’au la Porte du village de Lung-Ngieu. A partir de cette Porte elle reprend le haut des rochers qui contournent le cirque du village de Lung-Ngieu pour arriver à un point marqué C. Du point C elle se dirige à l’Ouest jusqu’à la Porte de Kida.

....

Tạm dịch:

Biên-bản số 4.

Ủy-Ban Pháp-Hoa Phân-Ðịnh Biên-Giới nhìn-nhận, nhằm ngày bẩy tháng tư năm một ngàn tám trăm tám mươi sáu, bắt đầu từ một điểm được xác-định cách cổng Nam-Quan 100 thước trên đường từ Nam-Quan về Ðồng-Ðăng, đường biên-giới theo hướng Tây lên đến đỉnh ngọn núi đá mà trên đó có một đồn-binh được đánh dấu là điểm A theo sơ-đồ kèm theo đây, sau đó đường biên-giới từ điểm nầy theo đỉnh cao của bức tường núi đá nhìn xuống con đường Ðồng-Ðăng cho đến điểm B đánh dấu trên sơ-đồ. Ðiểm B là điểm mà đường mòn dẫn đến làng Lũng-Ngọ cắt bức tường núi đá - đường mòn nầy là một nhánh rẽ của con đường Ðồng-Ðăng đi Nam-Quan. Ðường biên-giới theo đường mòn nầy cho đến Cổng làng Lũng-Ngọ. Từ cổng nầy đường biên-giới đi lên đỉnh của rặng núi đá bọc quanh thung-lũng của làng Lũng-Ngọ để đi đến điểm C. Từ điểm C đường biên-giới đi về hướng Tây cho đến cửa Du.

Tài-liệu khác là biên-bản tổng-hợp ký-kết giữa đại-tá Galliéni và ông tri-phủ Long-Châu tên Thái Hy Bân ngày 19 tháng 6 năm 1894, cột mốc tại Nam-Quan được ghi-nhận như sau: Tên Nam-Quan, Mang số 18, cắm trên đường Nam-Quan về Ðồng-Ðăng, cách cổng Nam-Quan 100 mét. (A environ 100m en avant de la porte de Nam-Quan). Biên-bản tiếng Hán thì cột mốc số 18 mang tên Trấn Nam Quan Ngọai 鎭南關外 .

Như thế cột mốc tại Nam-Quan đã được xác-định một cách rõ-rệt trên hai biên-bản : biên-bản phân-định 7 tháng 4 năm 1886 và biên-bản phân-giới, cắm mốc ngày 19 tháng 6 năm 1894, ghi rõ tên và vị-trí cột mốc bằng 2 thứ tiếng (Pháp và Hoa). Mô-tả như thế không thể chính-xác hơn được nữa.

Vì thế « thông tin » của ông Dũng về « các văn-bản pháp-lý lịch-sử » nơi cửa Hữu-Nghị hoàn-toàn sai. Nhưng cái sai của ông Dũng có ý-đồ rõ rệt.

Thật vậy, tài-liệu của bộ Ngoại-Giao, nơi ông Vũ Dũng làm việc đến chức Thứ-Trưởng, công-bố năm 1979 qua nhà Xuất-Bản Sự-Thật, nói về Nam-Quan như sau :

Năm 1955, tại khu-vực Hữu-Nghị Quan, khi giúp Việt-Nam khôi-phục đoạn đường sắt từ biên-giới Việt-Trung đến Yên-Viên, gần Hà-Nội, lợi-dụng lòng tin của Việt-Nam, phía Trung-Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt-Trung sâu trong lãnh-thổ Việt-Nam trên 300m so với đường biên-giới lịch-sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên-giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính-Phủ Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa đã đề-nghị chính-phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều-chỉnh lại điểm nối ray cho phù-hợp với đường biên-giới lịch-sử nhưng họ một-mực khước-từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn-bộ vấn-đề biên-giới thì sẽ xem-xét. Cho đến nay họ vẫn trắng-trợn ngụy-biện rằng khu-vực hơn 300m đường sắt đó là đất Trung-Quốc với lập-luận rằng “không thể có đường sắt nuớc này đặt trên lãnh-thổ nước khác”.

Cũng tại khu-vực này, phía Trung-Quốc đã ủi nát mốc biên-giới số 18 nằm cách cửa Nam-Quan 100m trên đường Quốc-Lộ để xóa vết-tích đường biên-giới lịch-sử, rồi đặt cột mốc ki-lô-mét 0 đường bộ sâu vào lãnh-thổ Việt-Nam trên 100m, coi đó là vị-trí đường quốc-giới giữa hai nước ở khu-vực này.

Như vậy, họ đã lấn-chiếm một khu-vực liên-hoàn từ đường sắt sang đường bộ thuộc xã Bảo-Lâm, huyện Văn-Lãng, tỉnh Lạng-Sơn của Việt-Nam, dài 3.100km (có lẽ ghi sai, m chứ không thể km, chú-thích của tác-giả) và vào sâu đất Việt-Nam 0,500 km. Năm 1975, tại khu-vực mốc 23 (xã Bảo-Lâm, huyện Văn-Lãng, tỉnh Lạng-Sơn), họ định diễn lại thủ-đoạn tương-tự khi hai bên phối hợp đặt ống dẫn dầu chạy qua biên-giới: phía Việt-Nam đề-nghị đặt điểm nối ống dẫn dầu đúng đường biên-giới, họ đã từ-chối, do đó bỏ dở công-trình này.

Như thế phía Việt-Nam nắm vững hoàn-toàn nội-dung công-ước Pháp-Thanh, phần liên-quan đến Nam-Quan.

Thực-tế là cột mốc mang số 18 cách cổng Nam-Quan 100m đã bị Trung-Quốc « ủi nát » và biên-giới tại đây đã lấn vô phía Việt-Nam trên 100m từ thời ông Hồ còn làm Chủ-Tịch nước.

Ông Dũng diễn-dịch đường biên-giới vùng Nam-Quan với ngôn-ngữ rất « ngoại-giao », rất chung chung, không nói chính-xác cột mốc tại Nam-Quan thời Pháp và nhà Thanh họ cắm tại đâu, cột mốc này sang thời chủ-tịch Hồ Chí Minh thì bị Trung-Quốc « ủi nát » và lấn đất ra sao. Ông Dũng nói thế không phải vì ông không biết mà vì ông không dám nói. Ông không nói thì mọi người cũng thông-cảm thôi. Vì nói ra thì để lộ cái tội không giữ được nước của Bác Hồ mà ông đã không hết lời ca ngợi : Gần tám thập kỷ qua, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Bác Hồ kính yêu, đã đi qua những cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ, chịu đựng những hy sinh, mất mát to lớn để giữ vững chủ quyền lãnh thổ của mảnh đất thân yêu này…

Giữ thế nào mà lại viết công-hàm nhượng đảo 1958, ký hiệp-ước nhượng đất và biển năm 1999 và năm 2000 ?

b/ Thác Bản-Giốc :

Ông Vũ Dũng nói rằng : Thác Bản Giốc gồm hai phần: phần thác cao hoàn toàn thuộc Việt Nam, không có tranh chấp; phần thác thấp gắn liền với sông Quây Sơn. Theo Công ước Pháp - Thanh, đường biên giới đi giữa sông Quây Sơn đến thác và mốc 53 nằm phía trên thác đánh dấu sự chuyển hướng đường biên giới từ sông lên bờ.

Đây cũng là ngôn-ngữ « ngoại-giao », chỉ nói chung chung, hiểu sao cũng đúng. Con sông Qui-Xuân (Quây-Sơn) bắt nguồn từ Trung-Quốc, chảy vào Việt-Nam (qua Ải Lung, cột mốc 81), cắt một góc Đông-Bắc Cao-Bằng, và chảy vào lại Trung-Quốc (mốc 50, 51, 52). Phần trên hay phần dưới thác đều thuộc sông Qui-Xuân. Đoạn trên thuộc Việt-Nam, đoạn dưới sông (khoảng các cột mốc 50-51-52) con sông là đường biên-giới. Nhưng thác Bản-Giốc nằm ở đâu ?

Ông Dũng cho rằng thác gồm hai phần, phần trên và phần dưới, nhưng nói vậy là thiếu.

Chỉ nói về trường-hợp thác Bản-Giốc. Thác Bản-Giốc là một loại thác bậc thềm (có 3 bậc), cao khoảng 50m. Như thế thác Bản-Giốc (cũng như các thác nước khác) có 3 phần : phần trên (là sông), phần giữa (là thác), phần dưới (là sông). Phần giữa thác Bản-Giốc cao khoảng 50m. Ông Dũng nói thác có hai phần để khỏi cắt nghĩa lôi-thôi về phần giữa, tức phần quan-trọng nhất, cái thác thuộc về nước nào ?

Ký-giả phỏng-vấn rõ-ràng không có kiến-thức (thông-tin) về thác nước để đặt câu hỏi cụ-thể hơn.

Nhưng thực ra vị-trí thác Bản-Giốc trên sông Qui-Xuân (Quây-Sơn) không đơn-giản như ông Dũng mô-tả. Sự thật về thác Bản-Giốc như thế nào ? Thác này theo tài-liệu lịch-sử thì thuộc về ai ? Quí độc-giả có thể xem bài viết sau đây, có đầy đủ hình-ảnh, tài-liệu lịch-sử và pháp-lý : http://www.congdongnguoiviet.fr/TaiLieu/tlTimHieuChuQuyenBanGioc.htm

Trong bài viết này chúng tôi chỉ xin trưng ra tài-liệu của bộ Ngoại-Giao Việt-Nam công-bố năm 1979 nói về chủ-quyền thác Bản-Giốc.

« Năm 1955-1956, Việt-Nam đã nhờ Trung-Quốc in lại bản-đồ nước Việt-Nam tỉ-lệ 1/100.000. Lợi-dụng lòng tin của Việt-Nam, họ đã sửa ký-hiệu một số đoạn đường biên-giới dịch về phía Việt-Nam, biến vùng đất của Việt-Nam thành của Trung-Quốc. Thí-dụ: họ đã sửa ký-hiệu ở khu-vực thác Bản-Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao-Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác Bản-Giốc của Việt-Nam và cồn Pò-Thoong….

Tại khu-vực cột mốc 53 (xã Ðàm-Thủy, huyện Trùng-Khánh, tỉnh Cao-Bằng) trên sông Qui-Thuận có thác Bản-Giốc, từ lâu là của Việt-Nam và chính-quyền Bắc-Kinh cũng đã công-nhận sự thật đó. Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung-Quốc đã huy-động trên 2.000 người kể cả lực-lượng vũ-trang lập-thành hàng rào bố-phòng dày-dặc bao-quanh toàn-bộ khu-vực thác Bản-Giốc thuộc lãnh-thổ Việt-Nam, cho công-nhân cấp-tốc xây-dựng một đập kiên-cố bằng bê-tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên-giới, làm việc đã rồi, xâm-phạm lãnh-thổ Việt-Nam trên cồn Pò-Thoong và ngang-nhiên nhận cồn này là của Trung-Quốc. »

Theo tài-liệu dẫn trên và các tài-liệu lịch-sử thì thác Bản-Giốc hoàn-toàn thuộc về Việt-Nam.

Ta thấy mới đây, phát-ngôn-nhân Trung-Quốc ông Tần Cương có cho rằng phe Việt-Nam thay đổi quan-điểm theo thời-gian. Ông này nói đúng. Thác Bản-Giốc đang của Việt-Nam bây giờ thành của Trung-Quốc phân nửa.

Ông Dũng nói rằng vùng Bản-Giốc chưa phân-giới : « Hiện nay ta và Trung Quốc chưa PGCM đoạn biên giới khu vực này nhưng có thể khẳng định phần thác cao hoàn toàn thuộc Việt Nam, phần thác thấp sẽ được phân giới theo luật pháp và tập quán quốc tế về trung tuyến dòng chảy hoặc trung tuyến tàu thuyền đi lại được, hoàn toàn không có chuyện Việt Nam mất thác Bản Giốc như một số người nói. Hàng triệu lượt khách du lịch đến thác Bản Giốc đều biết rất rõ điều này ».

Từ lâu phía Trung-Quốc đã đặt tên thác Bản-Giốc của Việt-Nam là Đức Thiên Bộc Bố (德 天 瀑 布) và cho khai-thác du-lịch. Thác này được giới thiệu trên tờ quảng-cáo du-lịch « Guangxi Carte Touristique » như là « première grande chute d’eau transnationale de l’Asie ».

Nếu chưa phân-giới thì tại sao Trung-Quốc có thể làm việc này được ? Ông Dũng thiếu thông-tin hay ông Dũng có « ý-đồ » ?

Kết-luận : Không ngoại-lệ, ông Vũ Dũng, không khác các nhân-vật tương-tự như Thứ-Trưởng bộ Ngoại-Giao Lê Công Phụng, ông Bộ-Trưởng Nguyễn Dy Niên trong quá-khứ, tất-cả những tuyên-bố hay trả lời phỏng-vấn của các ông này chỉ làm cho vấn-đề biên-giới càng thêm mù-mờ. Ở hai điểm trên vùng biên-giới được đề-cập là Nam-Quan và Bản-Giốc, nội-dung bài trả lời của ông Vũ-Dũng không khác ông Lê Công Phụng, tức cả hai chối quanh là không có mất đất, có điều ông Dũng có cái lưỡi gỗ chuyên-nghiệp hơn ông Phụng. Công-tác cắm mốc kéo dài cho thấy đã có những tranh-chấp sôi-nổi chủ-quyền một số vùng đất trên biên-giới. Ở Nam-Quan, Bản-Giốc với những bằng-chứng cụ-thể như vậy cho thấy Việt-Nam có mất đất cho Trung-Quốc, nhà-nước CSVN không thể ngụy-biện. Chúng tôi nghĩ rằng, nhà-nước CSVN không thể bưng-bít thông-tin mãi như thế được. Ông Vũ Dũng, với trách-nhiệm đang có, nên công-bố bộ bản-đồ đính-kèm hiệp-ước 1999, một bộ-phận không thể tách-rời của HUBG 1999. Chỉ có việc công-bố này mới có thể giải-tỏa mọi ngộ-nhận bất-lợi nơi dư-luận và chứng-tỏ đây là một nhà-nước có trách-nhiệm.

Trương Nhân Tuấn

Tài-liệu tham-khảo : hồ-sơ phân-định biên-giới CAOM. Xem Biên-Giới Việt-Trung 1885-2000 – Lịch-sử thành-hình và những tranh-chấp xuất bản năm 2005 của cùng tác-giả.

14 thg 1, 2008

Video chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trả lời phỏng vấn.




Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket
Photobucket

Chủ tịch mình thì khép nép , nói năng thì nịnh nọt cười mếu máo như sắp khóc.
Photobucket

Photobucket

Trong khi cái thằng phỏng vấn thì cái mặt lếu láo , hỏi gì cũng nhíu mày , bặm miệng , hất hàm . láo thật , hỏi chuyện với chủ tịch nước tao mà dám có cái thái độ đó à .

Sau đây là 1 đoạn video trả lời phỏng vấn đài truyền hình Trung Quốc của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.

Tôi đang thắc mắc ko hiểu vì sao hình ảnh vị lãnh đạo đáng kính của chúng ta được trình chiếu trên đài truyền hình của Trung Quốc , trong khi đó đoạn phim này lại bị cấm phát sóng tại Việt Nam .

Nội dung thì khỏi phải chê , báo chí và truyền hình việt nam không dám đưa là biết như thế nào rồi ...

hay là có ai đóng giả ngài chủ tịch nước các bạn nhỉ !

hôm qua có nhiều bạn nói đoạn băng bác Phạm Thế Duyệt là giả , thế nên mình nghĩ đoạn video bác Nguyễn Minh Triết này cũng là giả luôn quá ...

mời các bạn bình luận xem là chủ tịch thật hay giả nhé !

( theo mình thì đoạn video này là do tụi phản động đóng giả chủ tịch Nguyễn Minh Triết , chứ bác Triết này mình biết , bác ấy vì nước vì dân lắm , không bao giờ nói những lời như vậy đâu )

Xem video ở đây .

Phần 1

Phần 2

Phần 3

Nguồn :itv. ifeng.com